Hỏi:
Trả lời:
1. Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày
17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các
các cơ quan nhà nước (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số
117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013): Kinh phí quản lý hành chính giao cho các cơ
quan thực hiện chế độ tự chủ tự chịu trách nhiệm được xác định và giao hàng năm
bao gồm: (i) Khoán quỹ tiền lương theo số biên chế được cấp có thẩm quyền giao
trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; (ii) Khoán chi hoạt động thường xuyên theo số biên chế được
cấp có thẩm quyền giao trên cơ sở vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức và
định mức phân bổ ngân sách nhà nước hiện hành; (iii) Chi mua sắm, sửa chữa
thường xuyên (trừ mua sắm, sửa chữa theo đề án); (iv) Chi hoạt động nghiệp vụ
đặc thù thường xuyên đã xác định được khối lượng công việc và theo tiêu chuẩn,
chế độ định mức quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Tại khoản 1,2 Điều
8 Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005
quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh
phí quản lý hành chính đối với các các cơ quan nhà nước (được sửa đổi, bổ sung
tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07/10/2013), quy định: “1. Kết thúc năm ngân sách, sau khi hoàn
thành các nhiệm vụ được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực
tế thấp hơn số dự toán được giao về kinh phí thực hiện chế độ tự chủ thì phần
chênh lệch này được xác định là kinh phí tiết kiệm; các hoạt động nghiệp vụ đặc
thù đã giao kinh phí thực hiện chế độ tự chủ nếu không thực hiện nhiệm vụ đã
giao, hoặc thực hiện không đầy đủ khối lượng công việc thì không được xác định
là kinh phí tiết kiệm và phải nộp trả ngân sách nhà nước phần kinh phí không
thực hiện...”
2.
Phạm vi sử dụng kinh phí tiết kiệm được:a) Bổ sung thu nhập cho cán bộ, công
chức...; b) Chi khen thưởng: Chi khen thưởng định kỳ hoặc đột xuất cho tập thể,
cá nhân theo kết quả công việc và thành tích đóng góp ngoài chế độ khen thưởng
theo quy định hiện hành của Luật thi đua
khen thưởng; c) Chi cho các hoạt động
phúc lợi tập thể của cán bộ, công chức; trợ cấp khó khăn đột xuất cho cán bộ,
công chức, kể cả đối với những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho
người lao động trong biên chế khi thực hiện tinh giản biên chế; d) Trích lập
quỹ dự phòng để ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức…”.
2. Tại điểm 3 Điều 3 Nghị quyết
245/2025/QH15 ngày 13/11/2025 của Quốc hội về dự toán NSNN năm 2026: “kinh phí tiết kiệm chi hỗ trợ hoạt động chi
thường xuyên (chi tiền lương và chi hoạt động theo quy định của pháp luật) do
tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy thực hiện mô hình chính quyền địa
phương 02 cấp; cho phép các địa phương sử dụng số kinh phí tiết kiệm này để
bổ sung nguồn CCTL của NSĐP”.
3. Đề nghị độc
giả căn cứ các quy định nêu trên để tham mưu xử lý quỹ tiền lương của đơn vị
còn dư do có người nghỉ hưu trí, nghỉ thôi việc… đảm bảo theo đúng quy định của
pháp luật.
